EM CÀI DÂN CA LÊN NGỰC..ĐẢO

By phan thanh minh



Em cài dân ca lên ngực đảo

ví dặm thương..

biển chẳng cầm lòng

đêm nghiêng ngả không vì giông bão

câu hò đã hóa nhớ mong


                                    nhìn em như có cả non sông

nét lượn nét cong ngọt ngào cây trái

ngực ắp gió hồn quê gói lại

áo nâu non đảo hóa đất liền


                                    chỉ se rồi chẳng dám tra kim

ngập ngừng nửa môi miếng thơm là lạ

sợi đắn sợi đo quấn vào chí cả

trái tim ơi..

có thể đợi chờ


                                    bẻ gãy khát khao bóp chết nghi ngờ

chỉ biển hiểu vì sao sang sáng

cởi áo trao ai..

mai này giã bạn

đảo ơi người ở người về


                                   Có em đảo hóa đất liền

More...

CHÂN DUNG MỘT THỜI

By phan thanh minh


Có phút giây nào không nghĩ về em
nơi sấm Trường sơn ầm ào lửa dội
nơi bom đạn ngày đêm cày xới
nơi máu xương.. sống hóa những cung đường

Chiến thắng theo anh tới mọi chiến trường
chưa kịp ngỏ lời đã đành xa cách
chưa biết tên nhau đã thành viễn khách
kỷ vật ân tình chỉ tiếng em ca

Ánh mắt đen màu lay láy quê xa
sốt tóc dựng..
rét rừng..môi sạm
chân dung má hồng đôi mươi mười tám
mãi khôi nguyên như đất mẹ kiên cường

Bẻ nửa câu thề bẻ nửa yêu thương
em nằm xuống giữa tuổi xuân hoài cảm
xe anh rưng rưng qua cầu thông tạm
cao vút mùa thu tiếng cuốc mở đường

Chân dung một thời

ảnh PTM

More...

MỘT THỜI ĐẠN BOM..MỘT THỜI HÒA BÌNH

By phan thanh minh



Khi tôi đến hố bom đà tắt lửa

vũng nước uyên nguyên trong vắt gọi mừng

rừng chở che từng căn hầm nhỏ

dây mắt mèo xanh mái lá Trung quân


                          Rau tía dền liêm liếp hố bom

như hóa giải niềm đau chinh chiến

bát cơm Trường Sơn ngọt ngào vị biển

hạt muối cay ấm bữa sa trường


                          Giọng ai hò...thao thức tiền phương

tiếng đàn gáo véo von chiều binh trạm

túi cóc ba lô đen ngòm khói đạn

chan chứa ân tình giấy bút em trao


                          Đêm hướng về tiếng súng tiền tiêu

nghe nước mắt lưng tròng mi mẹ

mười tám đôi mươi căng tròn sức trẻ

đã mấy ai hóa đá chờ chồng


                           Khói lửa mịt mù tô thắm thủy chung

đi hết gian nguy tài hoa chiến thắng

đường tiếp bước bảy ngày gạo ẩm

nối giang sơn những trái tim hồng


                   Chiều binh trạm


More...

T.T.KH - NGƯỜI LÀ AI..? ( tiếp theo...)

By phan thanh minh


( tt )





Đôi chim uyên đã gãy cánh nàng phải tức tốc lên xe hoa  về với người mà mình không hề yêu mến nhưng giàu sang và thế lực. Cái bí mật duy nhất cho mối tuyệt tình kia nàng nghĩ chỉ có tuyền đài mới là ngôi nhà chung cuối cùng cho một tâm hồn đau khổ như nàng cư trú nhưng oái ăm thay nàng vẫn sống vẫn phải sống trong mối tình hờ hững của người chồng tự ti bao quanh điều bí mật ấy là những ánh mắt nghi ngờ những tiếng thị phi...Cho đến một ngày truyện ngắn Hoa Ti gôn của Thanh Châu đăng trên Tiểu thuyết Thứ bảy đã vô tình làm rướm máu quả tim hoa vốn đã yên bề gia thất dạo nào. Ba năm đã qua ba năm trong nỗi buồn của một người vợ không được chồng yêu thương nhất mực : "Và một ngày kia tôi phải yêu / Cả chồng tôi nữa lúc đi theo... /...những cô áo đỏ sang nhà khác / Gió hỡi làm sao...lạnh rất nhiều ! " Trong hoàn cảnh ấy không thể trách người ta hoài vọng về một hình bóng xưa cũ nơi mà tình yêu yếu đuối mỏng manh của họ đang vẫy gọi trái tim hoa một lần nữa lại rướm máu ân tình...cho dù : " Tôi oán hờn anh mỗi phút giây / Tôi run sợ viết...bởi rồi đây / Nếu không yên được thì tôi chết / Đêm hỡi làm sao tối thế này ! " ...

         Quả là những lời tâm tình rất đáng thương làm sao.

         Có một điều khá đặc biệt trong ba bài thơ của T.T.KH là chữ thu và chữ nghiêm được tác giả sử dụng không theo một khuôn mẫu thông thường nào tác giả dùng hai từ này bằng cách nhấn mạnh đặt để vào câu thơ không cần tự nhiên hơi gượng ép như cố nhắc nhở ai đó đừng quên một kỷ niệm êm đềm xa xưa...:" Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ / chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu "...

         Trở lại mối tình hoài niệm của hai người không biết chàng trai có người chị ruột hay người chị  thân thích nào không nhưng chắc chắn có người chị chỗ chàng ở trọ và chắc chắn là hai người đàn bà này đã rất thân nhau...Vì thương "em trai" mình đã bị người ta phụ rẫy nên đôi bạn nữ chí thân ấy cũng có lúc bằng mặt mà chẳng bằng lòng nên bài thơ ĐAN ÁO có thể đã được ra đời trong giai đoạn này nàng viết và gửi cho người chị của chàng để thanh minh này kia khác nọ ?

               " Chị ơi nếu chị đã yêu

               Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương

               Đã xa hẳn quãng đời hương

Đã đem lòng gửi gió sương mịt mùng

Hay chăng chị mỗi chiều đông

Đáng thương những kẻ có chồng như  em

Vẫn còn giá lạnh trong tim

Đan đi đan lại áo len cho chồng

Con chim ai nhốt trong lồng

Hạt mưa nó rụng bên sông bơ thờ

Lưng trời nổi tiếng tiêu sơ

Hay đâu gió đã sang bờ ly tan

Tháng ngày miễn cưỡng em đan

Kéo dài một chiếc áo lam cho chồng

Như con chim hót trong lồng

Tháng ngày than tiếc ánh hồng nơi nao

Ngoài trời hoa nắng xôn xao

Ai đem khoá hết chim vào lồng nghiêm

Ai đem lễ giáo giam em

Sống hờ hết kiếp trong duyên trái đời

Lòng em khổ lắm chị ơi

Trong bao ngờ vực với lời mỉa mai

Quang cảnh lạ tháng năm dài

Đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình."

Khẩu khí của bài thơ này không thể là của Thâm Tâm được có nhiều người nhận định như vậy nhưng nếu ta rộng đường thêm cho những ý tưởng khác ta sẽ thấy nó có sự liên đới tới ba bài thơ kia.

        T.T.KH đã khẳng định :

Chỉ có ba người đã đọc riêng

Bài thơ "đan áo " của chồng em

Bài thơ đan áo nay rao bán

Cho khắp người đời thóc mách xem

                     ( Bài thơ cuối cùng )

Tuy không có một chữ thu nào trong bài thơ (đan áo ) này một điều không bình thường so với thơ T.T.KH chỉ với ba bài : Hai sắc hoa Ti gôn Bài thơ thứ nhất và Bài thơ cuối cùng tác giả đã dùng tới 12 chữ thu. Mùa thu trong thơ ca thường tượng trưng cho sự ly biệt mùa của những chiếc lá vàng tức tưởi lìa cành tuy là vắng bóng thu nhưng bù lại chữ nghiêm trong bài thơ này chắc chắn là khẩu khí của người trong cuộc rồi bởi lẽ trong hai bài thơ của T.T.KH thì đã có ba chữ nghiêm chia đều cho từng giai đoạn cảm tác của tác giả một buồng nghiêm ở bài thơ cuối cùng và hai trăng nghiêm chồng nghiêm ở bài thơ thứ nhất. Những cặp từ trăng nghiêm chồng nghiêm còn có thể hiểu được nhưng buồng nghiêm thì chẳng ai hiểu nổi bao giờ phải chăng đây là một ẩn từ chứa đựng nhiều u uất của T.T.KH ? : " Ngang trái đời hoa đã úa rồi / Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi / Buồng nghiêm thờ thẫn hồn eo hẹp / Đi nhớ người không muốn nhớ lời...". Đó cũng là ý niệm chung cho từ lồng nghiêm trong Bài thơ đan áo quả thật cái lồng chim mà được tác giả nhân cách hoá thành lồng nghiêm thì rõ ràng có quá nhiều uẩn khúc giấu bên trong tứ thơ này...Từ nghiêm chính là mối dây liên kết bốn bài thơ lại với nhau. Tới đây ta có thể hình dung được là tuy bốn bài thơ đều ký tên T.T.KH nhưng thực chất chỉ có ba bài là con đẻ của nhân vật này còn bài thơ đan áo thì có âm hưởng rất ít của T.T.KH do từ chữ nghiêm mà ra như vậy phía sau cái bút danh T.T.KH là hai con người bằng xương bằng thịt hai tâm hồn này có lẽ đã từng có một thời đồng điệu yêu đương...và cũng vì cái từ nghiêm ấy mà hai con người tưởng chừng như son sắt kia  đã phải rứt ruột chia lìa...Giả định này cũng  có thể xảy ra lắm chứ ?

Cho đến một ngày người con trai cũng bị Hoa Ti gôn của Thanh Châu làm cho vết thương lòng yêu thương đã ngủ yên kia rỉ máu Hai sắc hoa Ti gôn viết bằng ngôn ngữ thơ được trau chuốt kỹ lưỡng nên mãi hai tháng sau bài thơ mới được trình làng. Hình ảnh " Đâu biết lần đi...một lỡ làng / Dưới trời gian khổ chết yêu đương / Người xa xăm quá tôi buồn lắm / Trong một ngày vui pháo nhuộm đường..." là hình ảnh của một chàng trai ly xứ mưu tìm một lối tiến thân còn khoảng không gian trong những câu thơ này không thể gán ghép hợp lý cho bất cứ hình bóng của một người con gái nào trong thời xa xưa như thế được. Con gái thì đi đâu..? mà lại đi dưới trời gian khổ ? Con gái thời xưa không thể mặc sức bươn chải như con gái bây giờ -" gái thời giữ việc trong nhà / khi thời canh cửi khi ra thêu thùa "- chỉ quanh quẩn bên mẹ cha cho tới ngày người ta mang xe cưới đến đón đi... Trở lại từ ngày 23-9 đến ngày 20-11-1937 hai bài thơ được trình làng trên Tiểu thuyết thứ bảy của T.T.KH đã gây xôn xao dư luận không ít. Và một cuộc tranh giành nàng T.T.KH  đã nổ ra dữ dội ai cũng thấy như mình có tâm sự gửi gắm trong câu chuyện này ai cũng thấy sắc hoa Ti gôn chính là sắc hoa kỷ niệm của chính tình mình nhất là những gia đình giàu sang thời ấy ai mà chẳng trồng hoa Ti Gôn trong vườn nhà phải chăng đây là mốt oách nhất thời đó ? Hai bài thơ đau đáu như thế đã ra đời mà người ta vẫn cứ dửng dưng cứ để mặc cho người thơ  thêm buồn rưng rức...Không đâu nàng đã trả lời chàng bằng bài thơ đan áo in trên báo Phụ nữ rất khảng khái kia rồi còn gì. Đó là lời khẳng định cuối cùng của người con gái tuy rất thương rất nhớ tình xưa nhưng ván đã đóng thuyền và tuy không yêu người mới nhưng đó là bổn phận đó là chồng...Và Bài thơ cuối cùng được T.T.KH mang vào thi đàn như để khép lại chuỗi tình thơ đầy nước mắt đau thương của mình...Nếu ta hoán đổi hai chủ ngữ trong bài thơ này là anh và em thì  T.T.KH đích thực là ai ta cũng đã đoán ra rồi. Có những lúc vì quá yêu người ta đâm ra giận dỗi giận dỗi cả chính mình người ta không ngần ngại mỉa mai cho bõ tức : "Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ / Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ /  Tóc úa giết dần thời thiếu phụ / Thì ai trông ngóng chả nên chờ "nhưng có thật như vậy đâu vì có một người mãi ôm mộng yêu thương với một người mãi rưng rức tiếng lòng cho đến ngày nhắm mắt.

Người thơ tài hoa thường bạc mệnh phải chăng đây là qui luật khắc nghiệt của ông trời   nếu ta có công nghiệm lại những danh nhân tài hoa nhưng yểu mệnh  dưới bầu trời này thì cũng đâu đến nỗi quá ít...cũng đâu chỉ có một Thâm Tâm ! Chính vì thực tế ấy mà những người có vẻ là nhân vật chính trong cuộc tình bi thương này   dẫu ngót nghét bảy mươi năm đã qua nhưng chưa có ai đủ can đảm nhận mình là T.T.KH ? Lý do nào ngăn cản họ ? khi mà những người đầu gối tay ấp của họ không còn trên cõi đời và con cháu của họ nếu thực tế có mẹ có bà...là T.T.KH thì họ sẽ được  hãnh diện biết chừng nào ? Còn mối tình cay đắng nhưng rất thơ mộng kia có gì để phải xấu hổ để phải lặng im ? Tội nghiệp cho một người thơ tài hoa nhưng yểu mệnh đã mang theo mình nỗi u uất khôn nguôi...xuống tuyền đài để cho những câu thơ đa sắc đa hương kia mãi mãi chơi vơi nơi trần thế có ai thương giùm cho một Tuấn Trình thật cô đơn nhưng cao thượng : " Thôi em nhé từ đây anh cất bước / em yên lòng yên hưởng cuộc đời vui..." Vâng và Thâm Tâm - Tuấn Trình thú nhận : "...Chim muốn bay giữ cũng chẳng được nào" và chàng  còn ân hận một điều gì đó thêm chăng ? "Chiều nay lạnh có nhiều sương rơi quá / Nhưng lòng anh đã bình thản lại rồi / Hết đau buồn và cảm thấy sục sôi / Niềm uất hận của một thời lạc lối / Lấy nghệ thuật làm trò hề múa rối / Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền / Để khẩn cầu xin một nụ cười duyên." Chỉ một nụ cười duyên không thôi ư chỉ một trò hề múa rối bằng nghệ thuật không thôi ư mà đã thành một nghi án văn học mấy ai biết mấy ai ngờ..? Để giờ đây chúng ta mãi chạy theo phỏng đoán mò mẫm làm sao người chết có thể đội mồ ngồi dậy đập nghi án vỗ ngực xưng tên ta đây là T.T.KH  bây giờ ?

         Để khép lại bài viết này tôi xin mượn những câu văn tài hoa của Thanh Châu viết trên Tiểu thuyết thứ bảy  mùa thu 1939 :" Tôi cầu mong chẳng bao giờ gặp mặt T.T.KH để được yêu thơ hơn. Và tôi lại có ý muốn lạ lùng này : đừng bao giờ người đàn bà ấy viết thêm một bài thơ nào nữa. Tôi chỉ sợ những bài thơ sau  sẽ làm bớt giá trị của bà đi. Arvers chỉ làm một bài thơ thôi nhưng tất cả những kẻ tuyệt vọng trong ái tình trên thế giới đều nhớ như chôn vào ruột bài thơ  tình tuyệt vọng " . Lời tiên tri của  nhà văn Thanh Châu trên đây đã hiển linh hiển linh như nhiều câu chuyện mà người ta cho là hoang tưởng như những nhà văn trên thế giới từng tiên đoán và người đời sau đã chiêm nghiệm không sai... Thâm Tâm hay T.T.KH trong trường hợp này là rất xứng đáng để cho nhiều người trong chúng ta chấp nhận  thành một dẫu rằng thiên hạ còn bao la và những câu hỏi nghiêm túc vẫn đang tiếp nối : T.T.KH - Người là ai ?

   Biết đến bao giờ người ta mới có câu trả lời thoả đáng cho câu hỏi này khi mà người trong cuộc - nếu còn sống - vẫn im lặng và người đã khuất thì mãi mãi là áng mây bay trên bầu trời thi ca diệu vợi nghìn trùng...Khêu sáng ngọn đèn đã không còn dầu là điều không thể mà ngồi tù mù dưới cái khoảng tối bất luận văn chương ấy thì cũng không yên ý nghĩ riêng tôi chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi trong sa mạc mông mênh tri thức của bao người có thể sẽ làm rối thêm cái mớ bòng bong của nghi án vốn đã tốn nhiều giấy mực này.

Chỉ là sự cảm nhận của riêng mình tôi không có ý tranh luận hay đề cao ý tưởng này nọ cái mình đang nghĩ đang viết có khi thiên hạ đã nhận hết nhuận bút từ hồi nảo hồi nao xin tạ lỗi người khai hoá những con đường thênh thang phía trước..người sau có khi giẫm phải dấu giày. Mong sao những người đang nghiệm TTKH không chuyên bây giờ có chút thanh thản khi có lời đồng điệu từ một người viết và cảm nhận cũng không chuyên như tôi âu cũng là nghiệp đa mang khó tránh khỏi...


                                     -----oooOooo-----


Hai sắc hoa Ti gôn


Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn

Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn

Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc

Tôi chờ người đến với yêu thương...

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi

Thở dài trong lúc thấy tôi vui

Bảo rằng : hoa dáng như tim vỡ

Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi.

Thuở ấy nào tôi đã hiểu gì

Cánh hoa tan tác của sinh ly

Cho nên cười đáp : "màu hoa trắng

Là chút lòng trong chẳng biến suy "

Đâu biết lần đi một lỡ làng

Dưới trời gian khổ chết yêu thương

Người xa xăm quá tôi buồn lắm

Trong một ngày vui pháo nhuộm đường.

Từ đấy thu rồi thu lại thu

Lòng tôi còn giá đến bao giờ

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ

người ấy cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

Ái ân lạt lẽo của chồng tôi

Mà từng thu từng thu chết

Vẫn giấu trong tim bóng một người

Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết

Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa

Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ

Và đỏ như màu máu thắm phai.

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi

Một mùa thu trước rất xa xôi

Đến nay tôi hiểu thì tôi đã

Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi...

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ

Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu

Gió về lạnh lẽo chân mây vắng

Người ấy ngang sông đứng ngóng đò

Nếu biết rằng tôi đã có chồng

Trời ơi ! người ấy có buồn không

Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ

Tựa trái tim phai tựa máu hồng ?


                    
                T.T.KH

                                             1937

             ( Tiểu thuyết thứ bảy ngày 23-9-1937 )


Bài thơ thứ nhất


       Thuở trước hồn tôi phơi phới quá

Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương

Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại

Êm ái trao tôi một vết thương

Tai ác ngờ đâu gió lại qua

Làm kinh giấc mộng những ngày hoa

Thổi tan tâm điệu du dương trước

Và tiễn người đi bến cát xa.

Ở lại vườn Thanh có một mình

Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh

Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo

Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.

Và một ngày kia tôi phải yêu

Cả chồng tôi nữa lúc đi theo

Những cô áo đỏ sang nhà khác

Gió hỡi làm sao lạnh quá nhiều.

Từ đấy không mong không dám hẹn

Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm

Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ

Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em...

Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên

Bỗng ai mang lại cánh hoa tim

Cho tôi ép nốt dòng dư lệ

Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên...

Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ

Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ

Tóc úa giết dần thời thiếu phụ

Thì ai trông ngóng chả nên chờ.

Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá

Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa :

"Cố quên đi nhé câm mà nín

đừng thở than bằng những giọng thơ "

Tôi run sợ viết lặng im nghe

Tiếng lá thu khô xiết mặt hè

Như tiếng chân người len lén đến

Song đời nào dám gặp ai về

Tuy thế tôi tin vẫn có người

Thiết tha theo đuổi nữa than ôi

Biết đâu tôi một tâm hồn héo

Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.


       
                                          T.T.KH

                                                   1937

                            (Tiểu thuyết thứ bảy 20-11-1937 )


Bài thơ cuối cùng


       Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ ?

Một mùa thu cũ một lòng đau

Ba năm ví biết anh còn nhớ

Em đã câm lời có nói đâu.

Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly

Càng khơi càng thấy lụy từng khi

Trách ai mang cánh" Ti gôn" ấy

Mà viết tình em được ích gì ?

Chỉ có ba người đã đọc riêng

Bài thơ " đan áo " của chồng em

Bài thơ đan áo nay rao bán

Cho khắp người đời thóc mách xem

Là giết tình nhau đấy biết không

Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung

Giận anh em viết dòng dư lệ

Là chút dư hương điệu cuối cùng

Từ đây anh hãy bán thơ anh

Còn để yên tôi với một mình

Những cánh hoa lòng hừ đã ghét

Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

Ngang trái đời hoa đã úa rồi

Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi

Buồng nghiêm thờ thẩn hồn eo hẹp

Đi nhớ người không muốn nhớ lời

Tôi oán hờn anh mỗi phút giây

Tôi run sợ viết bởi rồi đây

Nếu không yên được thì tôi chết

Đêm hỡi làm sao tối thế này ?

Năm lại năm qua cứ muốn yên

Mà phương ngoài gió chẳng làm quên

Và người vỡ lỡ duyên thầm kín

Lại chính là anh anh của em.

Tôi biết làm sao được hỡi trời

Giận anh không nỡ nhớ không thôi

Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt

Sợ quá đi anh có một người...


                                      
    T.T.KH

                                        1938

          ( Tiểu thuyết thứ bảy - 30.10.1938 )

More...

T.T.KH - NGƯỜI LÀ AI..?

By phan thanh minh


           T.T.KH - Người là ai ?

     

Chúng ta mặc nhiên cảm ơn lịch sử thơ mới trong quá trình thăng hoa của mình đã nở rộ những sắc màu văn học rực rỡ theo nhiều cung bậc khác nhau nó quyến rũ ta bằng ngôn ngữ của cái đẹp thánh thiện làm cho ta ngây ngất bởi chỉ hai mươi bốn mẫu tự bình thường và thật sự níu kéo người đọc xiết bao khi mà những câu hỏi trong lòng họ chưa có câu giải đáp...Đó là lúc một nghi án văn chương ra đời : T.T.KH - Người là ai  ?

      Từ xưa người ta đã tốn quá nhiều giấy mực để làm rõ cái dung nhan tài hoa của dịch giả Chinh Phụ Ngâm cho đến bây giờ nó vẫn tồn tại hai nghi vấn của hai nhóm đại diện cho hai khuynh hướng khác nhau : một nghiêng về Phan Huy Ích và một của bà Đoàn Thị Điểm. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về đề tài này đều rất quý và đáng trân trọng như nhau ta khó mà nghiêng về bên nào nói như thế không có nghĩa là ta đã quá ba phải nhưng khi muốn làm rõ chân tướng của một nghi án người ta cần có những bằng chứng xác thực. Độ tin cậy vào các công trình này phụ thuộc vào bản gốc của tác phẩm ( nhưng bản gốc thì than ôi chẳng bao giờ có được ? ) hoặc những bản chép tay gần nguyên tác nhất xưa nhất thì giá trị được nhìn nhận mới cao nhất. Dù các tác giả trên đã không còn nữa nhưng việc tìm đúng chân dung của một nhân tài trả lại  đúng vị trí xứng đáng cho họ là trách nhiệm của những nhà" khảo cổ  văn chương"chân chính những nhà lý luận phê bình đầy tâm huyết có trái tim nhân cách trong sáng...

      Bảy mươi năm đã qua kể từ khi bài thơ Hai sắc hoa Ti Gôn của T.T.KH ra đời người ta đã tốn quá nhiều giấy mực để viết về tác giả này một nghi án văn chương đang tồn tại song hành với người đương đại vậy thì T.T.KH nàng hay chàng là ai ?

      Ngược dòng thời gian trở về những năm 70 của thế kỷ trước Nguyễn Vỹ trong tác phẩm Văn thi sĩ tiền chiến do nhà xuất bản Khai Trí - Sài Gòn ấn hành ông viết : Thâm Tâm chính là T.T.KH do bị người yêu là Trần Thị Khánh chấm dứt một cách đột ngột cuộc tình duyên không mấy thơ mộng của mình do một chút tự ái văn nghệ bởi các bạn văn sĩ trẻ thời ấy như Trần Huyền Trân Nguyễn Bính Vũ Trọng Can...chọc quê nên Thâm Tâm ( Nguyễn Tuấn Trình ) đã làm bài thơ Hai sắc hoa Ti Gôn ký tên T.T.KH với thâm ý để các bạn tin là của Khánh ( người yêu của ông ) làm..." Cũng trong tác phẩm này Nguyễn Vỹ còn viết : "Tuấn Trình 19 tuổi còn cô Khánh 17 tuổi thi rớt Tiểu học và đã nghỉ học từ mùa hè năm trước...Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ làm thơ cả ! Và cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm nữa là khác..."

      - Còn Thế Phong thì sao trong Lược sử Văn nghệ Việt Nam- Nhà văn tiền chiến 1930-1945 do nhà xuất bản Vàng Son- Sài Gòn ấn hành 1974 ông viết khá e dè :" Có rất nhiều giả thuyết nghi vấn bàn về văn chương của T.T.KH. Nhưng thiết nghĩ rằng chúng ta không cần biết chi tiết là của ai ? mà chỉ cần bốn bài thơ ấy của T.T.KH những bài thơ bất hủ lãng mạn đau thương ( Romantisme tour manté ) thành khẩn và làm bao nhiêu người rung cảm theo ".

      -Còn theo nhà văn Trần Thanh Địch mà Phan Hoàng đã ghi lại trong tạp chí Kiến thức Ngày nay số đầu năm 2001 thì sao ? Có lần gặp ông Trần Thanh Địch Phan Hoàng hỏi : "Nghe nói ông cũng từng chơi với Thâm Tâm và biết những bí mật xung quanh T.T.KH ?"- Trần Thanh Địch không ngần ngại : " Tôi nhớ khoảng năm 1941 từ Sài Gòn ra Hà Nội chơi một lần cùng Thâm Tâm lang thang trên phố Hàng Đào tôi hỏi "T.T.KH có phải là anh không ?"Thâm Tâm lấy cái mũ bê rê đang đội liệng lên trời chụp và cười : " Chứ còn ai nữa ! "

      -Ngày 13-3-1990 trên tờ Văn nghệ Mã Giang Lân viết : "T.T.KH là ai ?Là Trần Thị Khánh là Thâm Tâm Khánh là Tuấn Trình Khánh...lại có người nói T.T.KH chính là Trần Thị Khánh người em gái đồng tông với nhà thơ Tế Hanh ở Thanh Hoá vân vân và vân vân. Tôi có thể nêu lên rất nhiều những huyền thoại huyễn hoặc nữa xung quanh cái tên T.T.KH này...Theo tôi mọi cái tên diễn dịch khẳng định ở trên đều là của giả. Ngay cả hai bài thơ tiếp sau là Đan áo cho chồng và Bài thơ cuối cùng dù được ký tên là T.T.KH cũng rất có thể là của giả nốt bởi vì xét về ý tứ nghệ thuật thơ cũng có những mâu thuẫn những điểm đáng ngờ."

      -Còn trên tờ Nhân Dân chủ nhật số 23 tháng 7-1989 Hoàng Tiến tuyên bố chắc nịch : "Hôm nay xin công bố với bạn đọc một thông tin chúng tôi được biết về T.T.KH. Người kể còn sống mà T.T.KH cách đây bốn năm vẫn còn gặp. Chúng tôi thấy cần phải công bố ngay vì nó có lợi cho việc làm văn học sử sau này....Nhà thơ Lương Trúc ( Phạm Quang Hoà ) là người cung cấp tư liệu và tất nhiên ông sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm về họ tên tác giả Hai sắc hoa Ti gôn được công bố dưới đây. Cùng nghe hôm đó với tôi còn có nhà thơ Trần Lê Văn và nhà thơ Tú Sót. T.T.KH tên thật là Trần Thị Khánh người yêu của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau nhưng biết không lấy được nhau hẹn giữ kín mối tình để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này. Cô Khánh đọc tiểu thuyết thứ bảy có in truyện ngắn Hoa Ti Gôn của Thanh Châu ( số tháng 9-1937) và bị xúc động tự thổ lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa Ti gôn và gửi đăng tiểu thuyết thứ bảy."..."tiếp đó...là Bài thơ thứ nhất và viết riêng gửi tặng Thâm Tâm bài thơ Đan áo...Do có nhiều người nhận là người yêu của mình trong số này có nhà thơ Nguyễn Bính Thâm Tâm hồi ấy còn trẻ với tính hiếu thắng của tuổi trẻ ông đã gửi báo Phụ nữ bài thơ Đan áo để minh chứng với thiên hạ rằng T.T.KH chính là người yêu của mình. Tất nhiên không có sự đồng tình của T.T.KH."..." Được biết T.T.KH về sống ở Thanh Hoá đã bốn năm nay không biết bây giờ bà còn hay mất nhưng cứ xin phép cho chúng tôi được công bố điều bí mật trên vì nghĩ rằng : Thời gian qua đi đã dài nhà thơ Thâm Tâm đã mất ông nhà của bà cũng đã quy tiên...Vả lại cũng vì công việc của văn học sử nếu đã tìm ra được tác giả của một tác phẩm nổi tiếng thì dù đắn đo đến đâu rồi cũng phải công bố ".

      Tới đây ta biết thêm một " sự thật " khác : Trần Thị Khánh là người biết làm thơ..?

      -Đến năm 1994 Thế Nhật với T.T.KH- nàng là ai do Nhà xuất bản Văn hoá ấn hành qua " Bức thư ngỏ thay lời kết gửi chị Trần Thị Vân Chung và anh Thanh Châu "  :" Xin được gọi là chị như ngày nào chị đã ký dưới các bài viết của mình là T.T.KH....Ở đây chúng tôi cũng có lời tạ lỗi với ông nhà- ông Lê Ngọc Chấn ( dầu đã qua đời ) và các con của chị vì những điều "thóc mách" chúng tôi viết trong cuốn sách này. Cuối cùng xin anh Thanh Châu- nhà văn- tác giả Hoa Ti gôn  và Những cánh hoa tim hiện đang ở Hà Nội người mà theo chúng tôi là nhân vật chính trong cuộc tình thơ này."....

      Còn "người trong cuộc" thì nói gì ta hãy lắng nghe nhà báo Phan Phú Yên với bài Hiểu rõ một con người phải đâu là việc đơn giản đăng trên Phụ nữ chủ nhật số 44 ngày 12-11-2000 khi hỏi nhà Văn Thanh Châu :" Có nhiều nghi vấn cho rằng nữ sĩ T.T.KH có thể là người yêu của nhà văn Thanh Châu...Nhà văn Tô Hoài có lần cũng nói đại khái chỉ có Thanh Châu mới biết rõ T.T.KH là ai. Nếu không phiền xin ông cho biết rõ hơn về con người đứng sau cái tên T.T.KH bí ẩn này ?"-( Nhà văn ngập ngừng hồi lâu ) rồi trả lời :" Cũng như mọi người tôi chỉ biết T.T.KH qua mấy bài thơ nổi tiếng của nhà thơ từ khi tôi viết truyện ngắn Hoa Ti gôn năm 1937. Chuyện xưa lắm rồi xin khép lại thôi."

      Và cũng từ nhà văn này năm 1939 trên Tiểu thuyết Thứ bảy ông viết :" Tôi thì tôi chưa được biết mặt biết tên thực của T.T.KH. Tôi chỉ biết rằng đó là một người đàn bà đã viết nên  được những vần thơ đẹp trong lúc thực thà cảm xúc. Còn muốn gì hơn nữa ? Sao người ta lại cứ muốn làm nhơ bẩn tất cả những cái gì gọi là trong sạch ở trong cõi đời này ? "

      -Khi tác phẩm T.T.KH -nàng là ai của Thế Nhật xuất bản năm 1994 nêu đích danh tên tuổi bà Trần Thị Vân Chung thì chính bà Vân Chung đã công khai lên tiếng phủ nhận mình là T.T.KH thư của bà từ Pháp gửi về được đăng tải trên báo Thanh Niên và một số tờ báo khác. Ngoài ra cũng có một số đọc giả viết bài gửi về báo không tin bà Vân Chung chính là T.T.KH. Điều này đã làm nhiều người ngờ vực  tính chân thực của cuốn sách nói trên "-( Trần Đình Thu- Đi tìm tác giả bí ẩn T.T.KH- báo thanh niên số 302- ngày 29.10.2005.)

      - Ở baó Sài Gòn giải phóng thứ bảy 4-10-2003 Hoàng Anh viết :"Trong mấy thập niên qua nhiều người đưa ra nhiều cách để giải đáp câu hỏi T.T.KH là ai ? Tuy nhiên khi người trong cuộc không chịu lên tiếng thì mọi cố gắng giải thích cũng chỉ là giả thuyết có thể đúng mà cũng có thể không đúng "...

      -Gần đây nhất trên báo Thanh Niên từ số báo 297 đến số 303-30.10.2005 đã cho đăng 7 bài của Trần Đình Thu viết về T.T.KH với kết luận cũng với hai nhân vật chính là Thanh Châu và Vân Chung tuy dài dòng văn tự nhưng cuối cùng thì cũng đồng quan điểm như T.T.KH - nàng là ai  của Thế Nhật.

      Trở lại nghi án văn chương có một không hai này   ta thấy T.T.KH có bốn bài thơ ba bài đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy và một bài đăng ở báo Phụ nữ mà người ta nghi là Thâm Tâm gửi. Với những quan niệm nhận thức của các nhà văn nhà thơ qua nhiều thời gian khác nhau mà tôi vừa trích dẫn ở trên chúng ta thấy gì qua những ý kiến này ?- T.T.KH là Thâm Tâm thì có Nguyễn Vỹ Trần Thanh Địch Thế Phong...T.T.KH là Trần Thị Khánh thì có Hoàng Tiến Lương Trúc ( Phạm Quang Hoà ) còn  Trần Lê Văn Tú Sót...là người nghe chuyện của hôm đó- T.T.KH là Trần Thị Vân Chung có Trần Đình Thu Thế Nhật...

      Còn chúng ta tôi hay bạn sẽ nghĩ gì ?

      -T.T.K.H  hay T.T.KH  ?

Mỗi chữ trên đây đều có một suy luận khác nhau...Cách viết nào đúng nhất thì cách suy luận chính xác nhất điều này có được tính xác thực khi toà soạn báo Tiểu thuyết thứ bảy còn giữ bản thảo của T.T.KH phần tôi vẫn phải theo số đông là dùng chữ T.T.KH.

      -T.T.KH là Trần Thị Vân Chung ? chẳng lẽ chữ viết tắt Trần Thị Vân Chung là T.T.KH hay T.T.K.H ? còn nếu tách T.T và KH ra thì KH cũng chẳng có gì là họ hàng với Thanh Châu ! Có chăng là những câu thơ mà chúng ta nên chú ý sau đây như T.T.KH đã viết  : "Từ đây anh hãy bán thơ anh..." hay " Cố quên đi nhé câm  mà nín / đừng thở than bằng những giọng thơ"...thì không thể là hình ảnh người yêu của Thanh Châu - nhà văn được và cũng tính từ mốc thời gian 1939 này là  lúc Thanh Châu viết trên Tiểu thuyết Thứ bảy " Tôi không khỏi có chút tự kiêu vì đã tạo ra được một người đàn bà thi sĩ do một mối cảm gây ra trong một chiều thu vì đã làm nổi tiếng trong một dạo cái loài hoa tầm thường ấy. Mà rồi đây tất cả những ai sắp đi qua cảnh đoạn trường kia ngẫm ngợi những vần thơ của T.T.KH nếu có vơi được lòng buồn thì khác gì như là tôi đã tìm ra được liệu sầu hoa ?"Còn bà Trần thị Vân Chung thì nói gì nhỉ ?Trích th? bà viết tại Pháp ngày 4 Novembre 1994 gửi tuần báo Thanh niên số 142 (538) ngày 4-12-94 viết : BÀ VÂN NƯƠNG-TRẦN THỊ VÂN CHUNG "TÔI KHÔNG PHẢI T.T.KH " Đó là tựa đề bức thư  đính chính của bà Vân Chung có nội dung : "Cuốn sách T.T.KH -nàng là ai ? tới tay tôi ngày 28-9-94 do nữ sĩ Thư Linh gửi...Đọc xong cuốn sách tôi nhận thấy đây là chuyện mơ hồ hư cấu do sự tưởng tượng của nữ sĩ Thư Linh người cung cấp tài liệu giả tưởng cho tác giả Thế Nhật..." Và bà Vân Chung viết tiếp :" Sự sỗ sàng của người đàn bà có chồng rồi mà còn có cử chỉ vô luân tồi bại như đã tả trong cuốn sách T.T.KH-nàng là ai (từ tr 54 tới 65 ) nếu chúng tôi có mặt tại quê nhà đã đưa chị ra toà kiện về tội mạ lỵ và vu khống !". Bà kết luận :" Tóm lại tất cả những điểm kể trên đều không đúng trường hợp và con người thật của tôi. Chứng tỏ chị ( Thư Linh ) đã cung cấp tài liệu giả tưởng cho tác giả Thế Nhật để gán ghép tôi là T.T.KH một nữ sĩ tài danh đã có những vần thơ trác tuyệt đã được sự cảm phục của tất cả người Việt Nam ưa chuộng văn chương suốt hơn nửa thế kỷ nay ( trong đó có cả tôi nữa ) với mục đích gì ? Vì danh lợi chăng ? Nhưng thật đáng tiếc đạo lý và lương tâm đã không cho phép tôi nhận ẩu vì mạo danh một nữ sĩ nổi tiếng cũng như đạo văn là một tội xấu xa nhất trong văn giới ! Cho nên một lần nữa tôi phủ nhận tôi là T.T.KH !..."

Tôi hoàn toàn tin tưởng những lời thanh minh trên của bà Vân Chung là trung thực một kẻ sĩ đích thực có hạnh văn chương đều  phải xử sự như bà...Xin được bàn riêng về khía cạnh văn vẻ giữa những tứ thơ của T.T.KH và thơ của bà Vân Chung ta không thể  thấy có nét đồng điệu nào ở đây cả ta  thử lắng xem bà viết :

      "...Sầu thu ghi lại mấy dòng đây

      Thắm nhạt càng phai cảnh sắc này

      Mái tóc sương pha cay đắng đủ

      Tương giang một giải mênh mông nước

     

      Ô thước đôi bờ vương vít mây

      Phảng phất mưa vương hồn Chức nữ

      Buồn dâng nghèn nghẹn ý chua cay...

                           ( trong bài Sầu thu liên hoàn 10 bài )

      ( Trích nguyên văn : T.T.KH-nàng là ai - Thế Nhật - trang 76-77)

Hay như :

                  "...Cho lòng dìu dặt chút men cay

                  Sống với chờ mong tự bấy chầy

                  Cứ tưởng xuân về hồng thắm má

                  Nào hay thu tới ủ ê mày..."

  ( trích nguyên văn  T.T.KH-nàng là ai - Thế Nhật trang 78 )

Rõ ràng đây không phải thơ của T.T.KH có khẩu khí của thơ Đường luật thì đúng hơn tuy bài thơ đầu bị lạc vận ( chắc do trích dẫn sai ) còn nếu nguỵ biện thì cũng có thể cho rằng T.T.KH chuyển hướng thi pháp ?  Nhưng có một điều mà không ai có thể chối cãi được là với trình độ chấp bút siêu đẳng như T.T.KH  thì không thể gieo vần bất cập như bảy câu thơ trích dẫn đầu tiên mà lại sai chính tả nữa chứ ! Thực ra đó là lỗi của sách trích dẫn chứ trong Tơ Sương 1962 - nào có viết thế. Trong 10 bài thơ liên hoàn ấy của bà bà viết :

                  "Sầu thu ghi lại mấy dòng đây

                  Thắm nhạt vàng phai cảnh sắc này

                  Mái tóc sương pha cay đắng đủ

                  Làn da nắng sạm nhớ thương đầy

                  Tương giang một dải mênh mông nước

                  Ô thước đôi bờ vướng vít mây

                  Phảng phất mưa vương hồn Chức Nữ

                  Buồn dâng nghèn nghẹn ý chua cay "

                                               ( trích Tơ Sương - 1962 )

       Đây là một bài thơ Đường luật hoàn hảo.

      -T.T.KH là Trần Thị Khánh ? Sao không là Tào Thị Khuê Trịnh Thị Khương Trương Thị Khoẻ...mà cứ phải là họ Trần..?  Theo tôi T.T.Khánh này là nhân vật của hai trong một một T.T.Khánh 17 tuổi thi rớt tiểu học không biết làm thơ một T.T.Khánh với : "Và thế là T.T.Khánh giận cô viết bài thơ lấy tiêu đề Bài thơ cuối cùng gửi đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy vừa hờn giận vừa yêu thương và cũng từ đấy T.T.KH tắt lịm trên thi đàn" ( Hoàng Tiến - Nhân Dân chủ nhật số 23-tháng 7.1989 ).

      - T.T.KH là Thâm Tâm ? - Vậy khi Thâm Tâm viết " Chỉ có ba người đã đọc riêng / bài thơ "đan áo" của chồng em..." Thâm Tâm có ngụ ý gì ?

Xin viết thêm là những năm 1936- 1937 ở phố Chợ Hòm ngoại ô Hà Nội có một nhóm văn nghệ sĩ trẻ với các bút hiệu Thâm Tâm Trúc Khê Trần Huyền Trân Nguyễn Bính...đều rất trẻ họ có một tờ tuần báo nhỏ tên là Bắc Hà đóng vai chủ động trong tuần báo này là Trần Huyền Trân...những áng văn thơ truyện ngắn của họ đã ra đời tại đây. Bài thơ liên ngâm Ngô sơn vọng nguyệt của bốn thi sĩ đã quá cố là Trúc Khê Thâm Tâm Trần Huyền Trân và Nguyễn Bính trong một đêm  trăng thanh rằm tháng 7 năm 1940 đã cùng nhau uống rượu tại quê nhà Trúc Khê : Làng Canh Hà Đông đã nói lên mối thâm tình tri âm tri kỷ của họ đây là một bài thơ liên ngâm khá hay :

                  " -Non Ngô dưới bóng trăng rằm

                  duyên may gọp bạn tri âm bữa này                     T.K

                  -Rượu vào chưa rót men say

                  riêng lòng đã thấy rót đầy tình nhau                      T.H.T

                  -Biết rằng gặp mãi nhau đâu

                  duyên bèo nước có bền lâu bao giờ                   N.B

                  -Rượu say còn lắng trăng mờ

                  ngày sau  e bóng người thơ lạc loài                    T.T

                  -Bàn chi những chuyện ngày mai

                  hứng vui thu lại nghìn đời : một đêm                    T.K

                  -Nghìn năm trăng sáng còn lên

                  đời ly biệt mới biết duyên tương phùng              T.H.T

                  -Uống cho say não say nùng

                  nghìn năm ai thoát khỏi vòng biệt ly                     N.B

-Ngày mai mãi mãi dù đi

gió thu còn giục hồn về Ngô sơn                          T.T

-Chênh vênh núi nhỏ một hòn

lưu danh hoặc sẽ nhờ ơn thi hào                         T.K

-Lững lờ trăng đã lên cao

ha...ha...hãy uống trăng vào lòng ta                    T.H.T

-Trăng lên trăng mãi không tà

trăng lên trăng mãi không già trăng non             N.B

-Tiệc tàn đến chén con con

mai sau vẫn nhớ trăng tròn đêm nay.                   T.T

                              ( Trích báo Thơ số  25- tháng 9.2005 ) 

      Chỉ riêng với Thâm Tâm ( T.T ) thôi góp mặt trong bài thơ này có sáu câu nhưng đã tới bốn câu có tính gở phải chăng hồng nhan bạc mệnh là cái hố đời lúc nào cũng đợi sẵn kẻ tài hoa ?...

      Trở lại với Bài thơ cuối cùng của T.T.KH ta thấy bài này với bài thơ đan áo có gì liên quan với nhau ? : " Chỉ có ba người đã đọc riêng / Bài thơ đan áo của chồng em..." Vâng có liên quan đấy chứ ta hãy nhẩm tính ba người đã đọc riêng và...bài thơ đan áo của chồng em chữ của đã khẳng định chủ nhân trực tiếp làm ra nó...như vậy là phải có bốn người biết bài thơ này rồi ! Bốn người ấy sao không thể là những người thân thiết trên kia ?

      Sau khi truyện ngắn Hoa Ti gôn ra đời Thanh Châu viết hồi ức trên tiểu thuyết thứ bảy 1939 :"Tôi mặc áo đi dạo chơi các phố. Sau cùng gõ cửa nhà hoạ sĩ Lê...Hoạ sĩ Lê đi vắng. Tôi được rõ rằng hoạ sĩ về quê chơi. Nhưng trong phòng khách tôi nhận thấy những dây hoa Ti gôn trắng ngâm mình trong một cái chậu thuỷ tinh xanh...Một ý định nảy ra trong óc : Tôi sẽ về quê hoạ sĩ Lê chơi...cũng có lần hoạ sĩ rủ về ở đấy một người bạn thân để vẽ tranh cho tĩnh...Buổi chiều xuống chầm chậm trong khi tôi bước trên những con đường nhỏ trong làng ( làng của hoạ sĩ Lê )...Tôi đã ngửi thấy nhiều hương hoa quý quen quen lúc đi qua những thửa vườn đất rộng có bờ rào cây cao rậm. Thế rồi trong một cái vườn như vừa nói đó tôi đã trông thấy bóng một người con gái hái hoa. Đó là một thiếu nữ độ 17 18 tuổi. Nàng đứng trên một chiếc ghế gỗ với tay lên giàn nứa đương bận gỡ những dây hoa Ti gôn đỏ. Tôi không trông rõ mặt nàng nhưng chỉ để ý đến hai cánh tay trắng để trần trên đám lá xanh và suối tóc như đêm chảy sau lưng... Tối hôm đó tôi viết trong cơn sốt rét. Và hai tuần sau cái truyện ngắn Hoa Ti gôn của tôi đã in trên mặt báo này." Đây là lời minh chứng đáng suy ngẫm...Thanh Châu và người con gái có đôi tay trần trắng nõn nà kia chưa một lần hò hẹn gì còn người hoạ sĩ lang bạt thường vác giá vẽ qua đây chủ yếu để ngắm cô gái vậy người hoạ sĩ bạn thân ấy của Thanh Châu là ai ? Ai trong thời gian này vẽ tranh tài hoa hơn Thâm Tâm ký tên Tuấn Trình trên tờ báo nhỏ Bắc Hà ? Hoạ sĩ Lê của Thanh Châu cũng có thể là Tuấn Trình chăng sao lại không thể được nhỉ ! Xét thêm một khía cạnh khác đó là thời gian truyện ngắn Hoa Ti gôn ra đời 1937 mà trước đó Thanh Châu đã thấy trên bàn của hoạ sĩ này cắm hoa Ti Gôn trong cái lọ xanh...Và nguyên nhân nào mà người hoạ sĩ kia rủ Thanh Châu về nơi làng quê của người chị họ nơi  mình đang nghỉ trọ để Thanh Châu có dịp ngắm giàn hoa Ti Gôn trắng đỏ hai màu ngắm cô gái hái hoa với đôi cánh tay trần nà nuột dưới tán lá xanh và suối tóc đen tuyền như dòng sông đêm trải lụa ? Với thời gia hai tháng sau khi bài thơ Hai sắc hoa Ti gôn của T.T.KH  ra đời và tiếp đó là Bài thơ thứ nhất để rồi khi Bài thơ đan áo ký tên T.T.KH được gửi đăng báo Phụ nữ thì Bài thơ cuối cùng cũng được đăng lên Tiểu thuyết thư bảy năm 1938 phải chăng đây thời gian đợi chờ có tính khoan nhặt của hai loại nhạc cụ như chiêng hay trống chẳng hạn bốn bài thơ có cùng một tác giả đan xen lẫn nhau như được sắp xếp trước và dĩ nhiên có lời giã biệt cuối cùng bất chợt để tạo một dấu nhấn mạnh trong lòng người đọc đang tưởng tiếc:

                     "Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ ?

                     Một mùa thu cũ một lòng đau

                     Ba năm ví biết anh còn nhớ

                     Em đã câm lời có nói đâu."

                          ( Bài thơ cuối cùng - Tiểu thuyết thứ bảy -1938 )

Ba năm qua tức là năm 1935 mối tình của T.T.KH và "người ấy" đã có rồi phải chăng Thanh Châu cũng chính là người ấy của T.T.KH ba năm trước  ? Nhưng Thanh Châu thì đã bị loại ra khỏi nghi án này từ đầu bởi các câu thơ sau của T.T.KH đã khẳng định người yêu lý tưởng của mình là một nhà thơ còn Thanh Châu chỉ là một nhà văn không hơn không kém :

                     -"Cố quên đi nhé câm mà nín

                     Đừng thở than bằng những giọng thơ "

                                             ( Bài thơ thứ nhất )

                     -"Từ đây anh hãy bán thơ anh..."

                                             ( Bài thơ cuối cùng )

Nói như thế không có nghĩa là hoàn toàn khẳng định nhà văn Thanh Châu không biết làm thơ đâu nhé...Có một bài thơ nhan đề Di chúc rất đáng chú ý :" Mong cỏ nội / Xoá đi ngàn chuyện dở / Để trên mồ / Con dế đẫm sương kia / Vẫn thay mình / Kể đẹp chuyện đêm khuya..." Trước đó ông đã có thơ đăng trên tờ Phong Hoá - tiền thân tờ Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn ví như bài thơ Lá run chẳng hạn - số 66 ra ngày 29.9.1933 bài thơ này cũng không có gì đặc sắc...Sau này ông vẫn làm thơ để...bỏ túi chứ không đem in." (Văn Giá - Kiến thức ngày nay  số  513 ).

         Tới đ&acir

More...

T.T.K.H - NGƯỜI LÀ AI..

By phan thanh minh

More...

LÊ BÁ DUY...

By phan thanh minh


LÊ BÁ DUY 
 

PHAN THÀNH MINH  


Sinh năm 1955
Hiện sống và viết tại TP.Đà Lạt
 

   Tác phẩm đã xuất bản:

- Bến đợi

- The thắt môi trầm

- Hoàng hôn dịu dàng

- Hương đất

- Đàn bà.

- Những loài hoa đi cùng năm tháng.

- Vú núi.

      

Trong những năm gần đây trên văn đàn xuất hiện một cây bút trẻ viết rất khoẻ và in thơ rất đều đặn gây tiếng vang khá rộng trong lòng bạn đọc đó là nhà thơ Phan Thành Minh- một nhà kinh doanh ngành du lịch tại thành phố sương mù Đà Lạt. Tôi đã đọc và theo dõi 7 tập thơ của anh trong 4 năm liền (2003 đến 2006). Thú thật tôi kính nể chàng thi sĩ phố núi về sức lao động nghệ thuật và lòng đam mê thi ca của anh. Để thấm và cảm thơ anh tôi đã đọc và có viết 2 bài cảm nhận về 2 tập thơ " Đàn bà" in trên tuyển tập thơ văn trẻ ÁO TRẮNG số 103 và "Hương đất" in trên tuyển tập thơ văn trẻ TUỔI NGỌC số 5. Tôi nghĩ  chưa thể dừng lại sự đánh giá về cây bút trẻ này vì thơi gian vơi anh còn dài ta sẽ còn đón nhận nhiều tập thơ nữa nhưng dù sao anh cũng đã định hình phong cách rất rõ qua 7 tập thơ của anh. Trong tập sách này tôi xin trích lại hai bài cảm nhận của tôi đã in ở ÁO TRĂNG và TUÔI NGỌC đánh dấu một giai đoạn cảm nhận của tôi về hai tập thơ của anh.


•1.     ĐỌC   "HƯƠNG ĐẤT"

CỦA PHAN THÀNH MINH


      

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết "Khi ta ở chỉ là nơi ta ở- Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn..." - Câu thơ dồn nén biết bao ân tình của nhà thơ tha thiết với quê hương- mảnh đất "chôn nhau cắt rốn" đã thấm sâu vào máu thịt con người. Càng da diết với quê hương càng sống càng chiêm nghiệm chúng ta mới hiểu sâu sắc ý thơ trên. Và thật hạnh phúc cho tôi hôm nay khi đón nhận từ trái tim thơ Phan Thành Minh chưng cất và dồn nén trong 80 bài thơ in thành tập "HƯƠNG ĐẤT" - NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh- 2005).


           
Tôi đã từng đọc 4 tập thơ "Bến đợi" (2003) "The thắt môi trầm" (2003) "Hoàng hôn dịu dàng" (2004) "Đàn bà" (2005) của Phan Thành Minh và đến bây giờ là "Hương đất". Thú thật tôi chúc mừng cho anh! Anh đã có bước chuyển mình dài định hình một  phong cách riêng - rất Phan Thành Minh - khó mà lẫn lộn với phong cách của những nhà thơ khác mà trước nay tôi đã đọc.


           
Dần mở tập thơ những lời thủ thỉ ấm hơi thở của chàng thi sĩ tâm huyết với THƠ và ĐỜI đã truyền vào tôi một cảm xúc thật ấm nồng:

                       

                   Cõi ta thở từ trăm năm thi sĩ
                   Ta trở về từ độ chán sông trăng

Bút chăn thả nghìn câu thơ tri kỉ

Để nên em kết nghĩa kim bằng.      

   

         Đất là hình ảnh ẩn dụ để chỉ quê hương. "Đất là nơi ta ở" - nuôi ta lớn lên bồi đắp tâm hồn chúng ta. Ai đó đã từng nói "Người là hoa của đất Thơ là hoa của người" Mối quan hệ thật mật thiết và nói lên ý nghĩa vô cùng sâu sắc.  Trăn trở với đất sống cùng đất nhận ra hương vị của đất để rồi ngấm vào trái tim bật lên những câu thơ đằm thắm ân tình với đất quê là cả một quá trình trăn trở và lột xác đớn đau phận người.


           
Sinh ra ở miền Trung lập nghiệp và sinh sống ở Đà Lạt cảnh vật Đà Lạt đã đi vào thơ anh không chỉ hiện lên với những hình ảnh hoa Mimôsa rực rỡ rừng thông xanh biếc bạt ngàn.... Mà đã thẩm thấu trong anh những buồn vui cay đắng không thể xa lìa:

            "Đà Lạt ơi chưa xa đã nhớ

Cam Ly đau biệt khúc xa người

Thung lũng vắng tiếng ve buồn nức nở

Qua một chuyến đò tiếc một dòng trôi..."


                  (Đà Lạt chưa xa đã nhớ trang 5)


   
Đà Lạt thành phố sương mù thành phố của hoa của núi của tình yêu biết bao người dù có "mênh mông núi" vẫn mang nỗi niềm vui buồn trăn trở của người thơ ngay cả trong giấc chiêm bao Đà Lạt vẫn hiện lên với vẻ đẹp thơ mộng:

"Bầu ngực nõn căng phồng ngồ ngộ

Trăng nghiêng chiều lấp ló song thưa

Nước xuân trinh gội tóc ước thề

Núi hạnh phúc vầng đôi nhật nguyệt..."

(Chiêm bao Đà Lạt trang 96)


       Đọc "Hương đất" tôi nhận ra hương tình của tác giả với quê hương nơi tác giả sinh ra nơi tuổi thơ có nhiều kỷ niệm nơi có người mẹ kính yêu bên bếp lửa rơm với "nồi cá bống kho riềng thơm ngát" nơi có  "Bát cơm quê dẻo mềm hương đất/ Đỏ phù sa ngọt mát rau đồng..." (Giấc quê) để người con xa quê ấy khắc khoải nhớ quê thốt lên thành tiếng nói tri âm nghe thật xúc động:

"Úa gầy  ngọn cỏ triền đê

Phù sa nguồn cội tìm về cố hương

Giã từ phố núi ngàn sương

Hồn hoa biển mặn vấn vương thị thành...".

(Tiếng quê trang 46)


           
Nỗi nhớ quê nhà cứ lặp đi lặp lại trong những bài thơ viết về quê hương gắn với tuổi thơ nhưng sao nghe cay đắng xót xa chứ không ngọt ngào êm ả đơn điệu:

            "...Quê người bĩ cực thái lai

            Giọt yêu vắn giọt thương dài... biết đâu
                                               (Tiếng quê trang 46)


           
Hồn quê không chỉ trở về với ký ức tuổi thơ mà còn ở hiện tại gắn với nơi tác giả đang sống. Một đêm trong rừng nhà thơ nhận ra "hương cỏ lạ ngây ngây" nhận ra "tiếng đêm róc rách môi cười - Tiếng thu xào xạc lặng lời cỏ hoa...". Phải có một tâm hồn rộng mở và yêu sống hết mình người thi sĩ mới thuyết phục bạn đọc bằng những bài thơ thấm đẫm hồn người. Thơ Phan Thành Minh thuyết phục tôi bằng chất giọng riêng bằng cách biểu đạt cảm xúc riêng. Chẳng hạn:

"Điệu lý uốn cong cầu dải yếm

Mai ta về làm nắng quê ta

Để nghe tiếng mẹ hò thương mến

Sông vẫn làm dâu bến quê nhà..."                           
( Nắng quê trang 73)

   Trải lòng với quê để "thương nhớ riêng ta một khoảng trời" đủ thấy tác giả nặng tình với quê biết dường nào. Anh không chỉ nhớ quê mà còn nhận ra ý vị hương quê thoang thoảng trong đời.

     Đọc "Hương đất" ngoài tình cảm dành cho quê hương cả nơi sinh ra và nơi đang sinh sống ta còn bắt gặp tình cảm của anh dành cho người mẹ cho những người phụ nữ bất hạnh tình bạn bè thuỷ chung trước sau như một những kỷ niệm tuổi thơ của anh với con người và cuộc đời gắn với thiên nhiên và thời gian từng mùa Xuân Hạ Thu Đông. Đôi lúc anh nhận ra "Dung nhan mùa hạ" bắt gặp "Chúa Xuân" và "Xuân nhân thế" thỉnh thoảng "Nhớ Thu" tìm về kỷ niệm gửi "nhành tương tư" để rồi mùa đông về phố núi và nhận ra:

".. Phố núi chập chồng hư ảo

Hồn chuông quạnh khách trầm ngâm

Mẹ ơi quỳ vàng mấy độ

Bước đi... thương quá... ngập ngừng"

( Mùa đông phố núi trang 52)


    Phan Thành Minh đã diễn đạt khá thành công những cảm nhận sâu sắc của mình về thiên nhiên con người và cuộc sống. 80 bài thơ trong "Hương đất" được viết bằng nhiều thể loại nhưng cùng chung một giọng điệu diễn đạt. Hình như trong mạch cảm xúc của anh những từ ngữ chắt lọc mới mẻ đầy tính sáng tạo đã hoà vào mạch cảm xúc giúp anh viết nên những bài thơ giàu hình ảnh giàu cảm xúc mà thấm đẫm tình đời và tình người.  Có lẽ điều mà anh muốn dồn nén cảm xúc của mình qua tập thơ là tấm lòng của anh dành cho con người quê hương nơi anh sinh ra và đang sinh sống...

            Thơ là một nghệ thuật. Người đọc thơ muốn hiểu muốn cảm bài thơ phải thật sự đồng điệu với tác giả. Phải bắt được mạch của bài thơ mới thẩm thấu cái hay cái đẹp từng bài.  80 bài thơ trong tập "Hương đất" là cả một quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật của tác giả không thể nói hết bằng mấy trang viết của người đọc bởi văn chương vốn vô cùng. Mỗi người có một cách cảm riêng của mình cũng như đường vào văn học có muôn ngàn lối khác nhau. Nhưng tôi tin "Hương đất" không chỉ thuyết phục tôi mà còn thuyết phục nhiều bạn đọc khác. Tôi nghĩ nếu bạn đọc khi đã đồng cảm cùng vui buồn với thơ anh cũng sẽ sẵn lòng chấp nhận nếu như còn bắt gặp trong tập thơ dăm bài còn thường tình vài câu còn viết vội...


    
Sau tất cả với tôi "HƯƠNG ĐẤT" của Phan Thành Minh là một tập thơ khá hay! Mong anh sẽ còn nhiều tập thơ ra mắt bạn đọc hay hơn thế!

        2. Người Đàn Bà

TRONG THƠ PHAN THÀNH MINH



PTM

  Cầm trên tay tập "Đàn bà"- tập thơ thứ 5 của nhà thơ Phan Thành Minh- do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2005 tôi chợt nhớ đến hai câu thơ nổi tiếng trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du: " Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung...". Có một chút gì đó nhoi nhói trong tim   cuốn hút tôi  đọc một mạch hết tập thơ.

     Lâu nay tôi có đọc thơ Phan Thành Minh trên Văn nghệ Trẻ Phụ Nữ Chủ Nhật đặc biệt là Áo Trắng... Tôi thấy cây bút mới xuất hiện trong những năm gần đây này có những nét riêng trong cách cảm cách nghĩ và có lối diễn đạt khác với những người thơ khác. Sau các tập thơ: Bến đợi (2003) The thắt môi trầm (2003) Hoàng Hôn Dịu dàng (2004) Hương đất (2005) và đến bây giờ là "Đàn bà" (2005) tôi thấy tập thơ này đằm hơn chất lượng bài có sự chọn lọc   ít hơn nhưng "Tinh"  hơn!


   
79 bài thơ như 79 bông hoa hướng về một đề tài chính là người phụ nữ. Hình ảnh người phụ nữ trong thơ Phan Thành Minh hiện lên khi cụ thể khi mơ hồ cứ vương vấn người đọc thuyết phục người đọc bằng sự mở toang nỗi đau thân phận người đàn bà bằng tình cảm trân trọng yêu  quí của tác giả đối với họ bằng lối diễn đạt rất riêng của anh.

     Đó là những người phụ nữ bước ra từ cuộc sống đời thường. Có khi tác giả trực tiếp gọi là mẹ (Hơn 16 bài gọi mẹ) có khi tác giả gọi người phụ nữ bằng chị bằng em...(kể cả hình ảnh người phụ nữ trong tranh thoắt ẩn thoắt hiện trong thơ anh). Khi thì tác giả dùng từ "đàn bà" để nói đến nỗi đau và thân phận của người phụ nữ trong xã hội nhất là xã hội cũ.


  
Trong tập thơ có hơn 25 lần tác giả dùng từ "đàn bà" xuyên suốt từ đầu đến cuối tập để nhấn mạnh thân phận người đàn bà cô đơn lẻ loi vất vả cực nhọc hy sinh cả cuộc đời mình cho chồng cho con cho những người thân yêu xung quanh và cho cả xã hội. Như người đàn bà quét rác những người mẹ người vợ có chồng liệt sĩ hoặc đi xa; Có khi là người đàn bà trong bức tranh đời thường nào đó mà bất chợt anh gặp trên chặng đường đời anh đi:

                  Người đàn bà đẩy cửa vào đêm

                  Sương buốt cao nguyên rừng se sắt lạnh

                  Ngọn gió vô tình mơn man vườn hạnh

                  Tôi nhoài người tìm hơi ấm bên kia...

                                                          ( Độc thoại đêm)

   Khát khao chờ đợi hạnh phúc là niềm vui lớn nhất trong đời của người phụ nữ Trời sinh ra người phụ nữ nhưng ít ban cho họ được sung sướng hơn người đàn ông. Có lẽ do phong tục người Á Đông? Có lẽ do tư tưởng trọng nam khinh nữ  vẫn còn? Hay do thiên chức trời ban cho phái yếu? Người đàn bà trong thơ anh còn xuất hiện ở nhiều phương diện khác: Người đàn bà gối lẻ chăn đơn tần tảo nắng mưa co ro trước vầng trăng úp mở cần mẫn với đêm mơn man vườn hạnh mặc nhận hồng nhan tất tả lo toan trở lại phút khôi nguyên hay  lặng lẽ gởi cho đời bao phát minh...  

  Người đàn bà có thể là một người phụ nữ trong xã hội cũng có thể là Người Mẹ Âu Cơ người mẹ sinh ra anh hay người mẹ quê hương... Trong số người phụ nữ anh trăn trở hình ảnh người mẹ- "Đấng sinh ra tôi" được tác giả đề cập nhiều nhất trong tập thơ có cuộc đời cực khổ vì bao lo toan lo cho chồng nuôi con ăn học thành tài đã đi qua thời xuân trẻ cô đơn chờ đợi người chồng trở về dồn thương nhớ chăm chút cho con cho công việc. Người phụ nữ ấy có mơ ước khát vọng bình thường như mọi người phụ nữ khác. Nhưng thời đại họ sống khác nhau. Thời chiến tranh người phụ nữ xa cách chồng một mình nuôi con đấu tranh với cái đói nghèo bệnh tật... người phụ nữ hi sinh thầm lặng hồng nhan dần úa tàn như bông hoa đến ngày héo rũ. Thân phận "cò vạc long đong" nhưng họ vẫn khát thèm hạnh phúc nơi người thân.

   Người phụ nữ trong thơ Phan Thành Minh xuất hiện luôn  gắn liền với thời đại với thiên nhiên với quê hương người thân và với tác giả... Họ đều có số phận cực khổ nhưng đức hy sinh cao cả. Số phận họ vọng vào lòng người đọc một nỗi niềm xót xa quặn thắt trong vòng xoay thời gian biến ảo khôn lường.

   Viết về người phụ nữ anh có hơn 25 lần dùng từ người đàn bà không phải vô tình mà là có dụng ý. Có lẽ anh muốn nhấn mạnh thân phận của người phụ nữ và gởi thông điệp đến người đọc. Rõ ràng ở "Đàn bà" ta nhận thấy tư tưởng tình cảm tác giả và ngược lại. Đó là những tình cảm đáng trân trọng đó cũng là tình cảm của người phụ nữ đẹp đẽ biểu hiện từ sự giản dị chân chất đời thường đáng để người thơ trăn trở tôn vinh ca ngợi.


   
Không thể diễn tả hết cái hay cái đẹp trong thơ anh viết về người mẹ bởi văn chương vốn là cái vô cùng. Có lẽ mỗi bạn đọc có cách hiểu cách cảm khác nhau nhưng đã đồng cảm và cùng vui buồn với tác giả sẽ thông cảm với anh khi có những điều mà lúc đọc ta chưa vừa ý với thơ anh.

   Đọc thơ anh tôi thật sự vui buồn xúc động trước những nỗi đau đời trước tấm lòng của những người mẹ người vợ người chị người em... Tất cả hướng đến tình người và tình đời với một tấm lòng bao la như đất trời quê hương. Đọc tập thơ "Đàn bà" của Phan Thành Minh tôi nghĩ đây là một tập thơ có nhiều bài đáng đọc. Cảm ơn tác giả đã cho tôi và bạn đọc bước vào thế giới nội tâm người phụ nữ qua cách nhìn cách cảm và cách biểu đạt của anh. Và xin được chia sẻ "Ly rượu nhân tình" như một sự tri âm của một người thơ Bình Định đến với thơ anh:

Anh đau " bút nghiệp thăng trầm"

Rượu tri âm ấm - lặng thầm nỗi đau.

Câu thơ  lang bạt ngàn sau

Phong trần một kiếp bể dâu phong trần.

                                    (Tri âm - L.B.D)

                                              Tuy Phước tháng 5.2005
(Trích  "Những gương mặt thi ca Việt Nam"-Tập 1 - Lê Bá Duy)

Viết bởi baduy 25 August 2008 23:23 | Chân dung văn học | Góp ý (8) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản in



góp ý

| Chị | 25/08/2008 23:18 | Trả lời

Trong các tác phẩm của PTM chị thích nhất là Người đàn bà. Như Bá Duy đã viết :
"Đó là những người phụ nữ bước ra từ cuộc sống đời thường. Có khi tác giả trực tiếp gọi là mẹ (Hơn 16 bài gọi mẹ) có khi tác giả gọi người phụ nữ bằng chị bằng em...(kể cả hình ảnh người phụ nữ trong tranh thoắt ẩn thoắt hiện trong thơ anh). Khi thì tác giả dùng từ "đàn bà" để nói đến nỗi đau và thân phận của người phụ nữ trong xã hội nhất là xã hội cũ."
Người đàn bà của PTM chị cũng đã nhận ra được khuôn mặt phúc hậu cần cù chịu thương chịu khó của mẹ mình nhận ra gương mặt của chính mình ...

Bá Duy ơi! Em viết rất sắc sảo.

| Nguyễn Thanh Cao | 26/08/2008 05:31 | Trả lời

Tuy chưa có dịp được đọc tất những tác phẩm của Phan Thanh Minh - một nhà thơ của vùng đất Đà Lạt nhưng qua bài giới thiệu của Lê Bá Duy NTC nhận thấy anh là một nhà thơ có phong cách và bản sắc có cảm nhận đầy tinh tế về con người và cuộc sống. Cũng như Lê Bá Duy NTC tin rằng Phan Thanh Minh sẽ có nhiều thành công hơn nữa trong lĩnh vực này.

Chị NT kinh! | Bá Duy | 26/08/2008 05:32 | Trả lời

Chị NT vào "nhà" em sớm nhất ! Lại có cái hình thật đẹp!
Em thích mái tóc trong tranh của...?! Vui khỏe nghen chị!

| honglam | 26/08/2008 05:36 | Trả lời

NTC nhờ Lê Bá Duy sửa lại tên lại lỗi chính tả khi đánh máy về tên lót của PTM ( chữ Thành thiếu dấu sắc). Xin cảm ơn nhiều!

| Bá Duy | 26/08/2008 05:42 | Trả lời

Cảm ơn anh Nguyễn Thanh Cao chia sẻ cùng Duy ! Chúc anh ngày mới hạnh phúc!
LBD

Gửi Lê Bá Duy. | tranhoangvy. | 26/08/2008 07:58 | Trả lời

Lê Bá Duy viết về PTM khá tốt. Anh chờ hoài không thấy tập thơ của LBD gửi. Các anh em văn nghệ "tỉnh lẻ" cần phải liên kết lại đúng không? Chúc Duy luôn vui khỏe. Thân mến

Duy ơi.. | phanthanhminh | 26/08/2008 08:40 | Trả lời

Đúng là chàng trai đất võ Duy viết khỏe mà tài hoa
Thú thật lần đầu tiên mình đọc được những bài viết này
Xin chân thành cảm ơn Bá Duy trước đã
nhưng mình không dám nhận cái phần thưởng quá lớn mà Duy tặng đâu

Gửi Bá Duy. | tranhoangvy. | 26/08/2008 14:34 | Trả lời

Bá Duy ơi cái địa chỉ của anh nhắn tin "không dấu" sợ người ta dễ nhầm nên comment vào đây nhé:
Trần Hoàng Vy. Số nhà 184 tổ 33 ấp Đá Hàng xã Hiệp Thạnh huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh.
( Anh xin nghỉ hưu sớm rồi nên không lấy địa chỉ cơ quan). Chúc vui.

More...

Có một ÔNG ĐỒ khác...

By phan thanh minh

           BẢN HỢP XƯỚNG

                         "  Ông Đồ "

                      

   Có một điều ít ai biết là Vũ Đình Liên ngoài hai bài thơ Lòng ta là những hàng thành quách cũ Ông đồ đã được Hoài Thanh - Hoài Chân giới thiệu trong Thi nhân Việt Nam còn có một " bản hợp xướng ông đồ" khác nữa cực kỳ lạ lẫm tài hoa...mà Vũ Đình Liên trước lúc đi xa đã kịp để lại cho đời.

   Sinh ngày 15 tháng 10 năm Quý sửu ( 1913 ) ở Hà Nội Vũ Đình Liên là một trong những người được phong Nhà giáo Nhân dân đầu tiên của Việt Nam. Ông làm thơ không nhiều nhưng đủ để ai đó khi nghe bài thơ ông đồ cũng đều phải nghĩ ngay tới cái tên Vũ Đình Liên tài ba : "Theo đuổi nghề văn mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ. Nghĩa là đủ để lưu danh đủ với người đời." " Có những nhà thơ không bao giờ có thể làm được một câu thơ- tôi muốn nói một câu đáng gọi là thơ. Những người ấy hẳn là những người đáng thương nhất trong thiên hạ. Sao người ta thương hại những kẻ bị tình phụ nuôi một giấc mộng ái ân không thành mà không ai thương lấy những kẻ mang một tình thơ u uất chịu để tan tành giấc mộng quí nhất và lớn nhất ở đời : giấc mộng thơ  ? "( Thi nhân Việt Nam ). Vũ Đình Liên đã vinh hạnh bước qua ngưỡng cửa phong thần ấy để đi vào lòng người với tác phẩm thơ bất hủ : ông đồ của mình. Khi phong trào thơ mới ra đời người ta đã thấy thơ Vũ Đình Liên đăng rải rác trên các báo điều này mặc nhiên cho phép người ta xếp ông vào hàng những người thơ cũ. Trong bối cảnh mà hai dòng thơ cũ mới xung đột nhau kịch liệt ta thử trở lại bảy mươi bốn năm về trước tức là năm 1932 khi cụ Phan Khôi "trình chánh giữa làng thơ" bài thơ mới đầu tiên Tình già đăng trên báo Phụ nữ Tân văn số 122 của mình thì cuộc bút chiến giữa hai phe thơ cũ mới càng trở nên gay gắt. Chính Khái Hưng một trụ cột của báo Phong Hoá ngày đó tuy rất nhiệt tình bênh vực thơ mới nhưng cũng phải đả kích những nhà thơ mới đã quá dễ dãi khi cho ra đời những đứa con tinh thần què quặt thiếu tháng... Khái Hưng liền cho đăng bài thơ khá mai mỉa của ông :

               "Vì thế kỳ báo này

               Tôi lại

               Viết một câu văn vui đại khái

               Cũng bằng thơ mới

               Nói thơ tự do thì có lẽ phải hơn vì cứ mỗi lần

               Gặp vần thì tôi tự do xuống dòng bất kỳ câu ngắn

               Hay dài từ một đến mười hai chữ

               Như thế hẳn

               Chẳng khó khăn gì

               Mà bỗng mình trở nên một nhà thi

               Sỹ

               Rồi các nhà phê bình sẽ

               Tìm ra những cái hay của mình và có lẽ

               Tôn bừa mình lên bậc thi hào

               Thì mình cũng đành nhận chứ biết làm sao "

                          ( Kiến thức ngày nay số  526 - trang 11 )

Một khi hai dòng thơ đối kháng cùng hạnh ngộ nơi một con người thường mang nhiều uẩn khúc kín đáo với thời cuộc với bạn bè đôi khi đâm ra nghi ngại chính mình dù chỉ trong thâm tâm sự xung đột ấy có thể làm cho nỗi đau thoát ra bay bổng vào cõi thơ vi diệu. Trong giây lát may mắn nào đó một sự hợp nhất hoàn hảo của ý nghĩ sẽ chắp cánh cho ngôn từ thơ thăng hoa...Điều may mắn ấy đã đến với tấm lòng đôn hậu thật thà của Vũ Đình Liên trước kia hay Huỳnh Văn Nghệ sau này.Với Vũ Đình Liên đó còn là một phong thái bình dị mà cảm động ta có thể nghe thấy tiếng lòng u uất của ông trăn trở với bao điều muốn nói nhưng đã nghẹn ngào không thốt được nên lời :" Tôi bao giờ cũng có cái cảm tưởng là không đạt được ý thơ của mình. Cũng vì không tin thơ tôi có một chút giá trị nên đã lâu tôi không làm thơ nữa ".

               "Lòng ta là những hàng thành quách cũ

               Tự ngàn năm bỗng vẳng tiếng loa xưa..."

                                        ( Vũ Đình Liên tháng 9-1941 - Tinh Hoa )

Còn với Huỳnh Văn Nghệ cũng hai câu thơ thành danh đã đưa ông ngồi lên chiếu thơ trên : " Từ thuở mang gươm đi mở cõi trời Nam thương nhớ đất Thăng Long...".Ngoài hai câu thơ ấy có mấy ai nhớ tới những bài thơ khác của Huỳnh Văn Nghệ ? Về khía cạnh này Vũ Đình Liên có khá hơn ông đã biết che kín nỗi đau trong lòng mình đến thế nào sắp xếp cho đứa con tinh thần của mình tiếp cận với người đọc ra sao và ông đã không ngần ngại hạ mình trong thế khiêm nhường khi tuyên bố giải nghệ thơ... Ai cũng nghĩ ông đã rời khỏi thi đàn thật rồi và cũng từ đấy người ta ít thấy thơ ông đăng báo như trước : "Trôi đi thuyền / cứ trôi đi xa nữa / Vỗ giăng khuya bơi mãi / Cánh chèo mơ.." và người ta lại càng tin hơn lời ông nói.

Không hẳn là con thuyền cứ trôi đi xa mãi bỏ mặc ta là hàng thành quách cũ năm tháng rêu phong hay chỉ làm một cái việc duy nhất là cho chữ cho đời để rồi phải trăn trở khi sắp trở về với cát bụi..! Ngược lại ngoài việc chính là dạy học Vũ Đình Liên vẫn âm thầm phóng bút đề thơ ông đã chưa hề từ bỏ hoặc xa lánh thơ bao giờ để đến hôm nay - 1996 - khi đã thong dong về chốn xa ngàn người ta không thể biết chính xác Vũ Đình Liên còn có bao nhiêu bài thơ khác nữa đang còn ở đâu đó trong dân gian ? Chính vì không muốn từ bỏ nghiệp thơ và cũng không muốn ai biết đến điều ấy Vũ Đình Liên làm thơ trong lặng lẽ và cũng chỉ để tặng người thân bạn bè tri kỷ tri âm mà thôi. Một trong những người tâm phúc ấy của ông - một bạn thơ thời cố cựu chi giao của ông - cũng sống rất âm thầm lặng lẽ lại càng âm thầm lặng lẽ hơn khi mà người chồng của bà : nhà văn Ái Mỹ - cũng là bạn của ông đồ - qua đời. Thành phố biển Nha Trang rì rào sóng vỗ nơi bà đang sống cũng là địa chỉ lưu giữ những bài thơ bút tích hình ảnh của ông đồ gửi vào tặng vợ chồng bà sau ngày giải phóng (1975 ). Người đàn bà thiện duyên ấy chính là nữ sĩ Trinh Tiên.

Tôi không có diễm phúc như nhà văn Vĩnh Hữu được bà cho xem tận mắt chụp hình di cảo đọc trực tiếp những bản thơ viết tay của ông đồ. Đó là các thi phẩm trác tuyệt và có phần lạ lẫm mà tôi trích lại sau đây ngỏ hầu các bạn bốn bài thơ ( trong đó bài Tưởng nhớ đã rất quen thuộc với chúng ta ) cùng bốn hình ảnh ông đồ được sáng tác trong nhiều thời điểm khác nhau rồi gộp lại thành bản hợp xướng ông đồ bất tử :

•1-     Tưởng nhớ

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

"Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay"

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu...

Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ..?

                1936

•2-     Thuỷ chung

Năm nay đào lại nở

Chật đường chợ hàng hoa

Từ đáy sâu quá khứ

Ông đồ lại hiện ra

Sáng nay mưa chớm tạnh

Nắng nằm trên giấy hồng

Một đám người ngồi cạnh

Có nhà thơ ngồi cùng

Tôi xin đôi câu đối

Cụ rọc tờ giấy điều

Bàn tay xưa viết nối

Những nét chữ thân yêu

Bài thơ "Ông đồ" mới

Dưới bút cụ nở ra

Tôi chân thành chép lại

Đánh dấu một mùa hoa

Chỉ thêm lời ghi chú

Vần thơ xưa thơ nay

Thuỷ chung một lòng cũ

Dù vui buồn đổi thay.

                   1974

•3-     Hạnh phúc

Năm nay đào lại nở

Mừng hội Đảng hội Dân

Bút ông đồ lại hoạ

Những nét chữ đẹp thâm

Cờ biển ngập phố phường

Cánh đào bay thắm đỏ

Như cả ngàn mùa xuân

Nở hoa trên mỗi chữ

Người trẻ lại già nua

Nghe mực gieo giấy hát

Nhìn ông đồ nhà thơ

Rỡ ràng một khuôn mặt

Thấy trong lòng say sưa

Dừng chân không muốn bước

Nghe đọc những vần thơ

Ngợi khen những nét bút

Xuân Cộng hoà Xã hội

Mai đào tươi thắm hoa

Một nguồn hạnh phúc mới

Trào ngọn bút dòng thơ.

                      1977

•4-     Mùa xuân Cộng sản

Một cây đào muôn thuở

Năm bốn mùa nở hoa

Một ông đồ bất tử

Tay với bút không già

Hoa tươi màu sông núi

Chữ thắm tình bốn phương

Cành đào và câu đối

Ngàn đời Tết Việt Nam

Nghiên bút xưa vẫn đợi

Từ ngàn năm bài thơ

Từ ngàn năm câu đối

Đảng sáng tác bây giờ

Nghệ sĩ với " ông đồ"

Tình nước non vô tận

Như Đảng với Bác Hồ

Hương Đất Trời Cộng Sản

Năm năm đào lại nở

Vui người mới hồn xưa

Một mùa xuân bất tử

Tươi nét hoạ lời ca.

        ( Không năm tháng )

Còn có nhiều bài thơ khác như Bóng ông đồ ( xuân 1982 ) chiếc túi xách của người ông ông không mất...v..v. Nhưng hơn hết theo tôi bản hợp xướng ông đồ là sự kết hợp hài hoà và ấn tượng hơn cả tôi cũng lấy làm tiếc cho Hoài Thanh - Hoài Chân đã không kịp cập nhật các tác phẩm thơ sau này của Vũ Đình Liên. Và cũng chỉ với mục đích giới thiệu đến những người yêu thích thơ ông đồ nhưng chưa từng đọc hoặc nghe về bản hợp xướng thơ ông đồ tôi xin mạo muội được viết ra đây. Cảm ơn nữ sĩ Trinh Tiên nhà văn Vĩnh Hữu những người đã rất trân trọng và yêu mến ông đồ yêu mến thơ ông đồ đã làm vinh danh thêm Vũ Đình Liên một lần nữa khi đã cho công bố bản hợp xướng này lên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thật là chưa phải lắm khi bài viết này không kịp đến với bạn đọc và những ai yêu mến ông đồ trong dịp xuân về nhất là khi đất trời cùng giao hoà bên chậu mai đào lung linh sắc thắm đọc thơ ông đồ ngắm hoa đào khoe sắc khoe hương ngắm những nàng thiếu nữ phơi phới xuân thì lả lướt trên những con đường quê thơm ngát để nhớ để thương để hoài niệm...về một thời xa xưa yêu dấu nào đó thì thật là thi vị biết chừng nào.       Chắc có lẽ trong chúng ta không ai là không bồi hồi xúc cảm khi  nhớ tới ông đồ xưa để tin rằng ông vẫn ngồi đấy với mực tàu giấy đỏ với nét bút phượng múa rồng bay :

               "Một ông đồ bất tử

               Tay với bút không già"

               "Một mùa xuân bất tử

               Tươi nét hoạ lời ca..."

Vâng không nghi ngờ gì nữa ông đồ trong thơ của Vũ Đình Liên đã đi vào bất tử...

                                                                         P.T.M - 2006

        ___________________________________________________________________________

Tài liệu tham khảo :

•-          Thi nhân Việt Nam

•-          Kiến thức ngày nay số  526

•-          Bản hợp xướng ông đồ - Vĩnh Hữu - V.N Nguyễn Đình Chiểu

              

              

More...

CHÓ HỌC

By phan thanh minh

             Thịt chó nấu một nồi

        

   Thịt chó là món ăn dân dã nhưng rất ngon mà lại bổ dưỡng tuy không là món ăn mang tính quốc tuý quốc hồn như ở Triều Tiên nhưng món thịt chó ở xứ ta cũng khá phổ biến nơi nào cũng có. Thịt chó đã đi vào mọi ngõ ngách mọi xóm thôn từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau từ hải đảo xa xôi tới Tây nguyên rực nắng đâu đâu cũng có các đệ tử lưu linh trung thành với món ăn rất chó học này.

      Chó có nhiều cách chế biến thành những món ăn ngon hợp khẩu vị của từng vùng tuy cách pha chế có khác tí đĩnh nhưng đều có các loại gia vị đặc thù như sả riềng mắm tôm...thì mới ra vị chó có người không ăn được thịt chó do nhiều nguyên nhân nhưng lại rất thích xơi món giả cầy với mùi mắm tôm thơm phức lắm mợ đâm ra ghiền nên bỏ luôn kiêng cử cứ thế mà đánh chén tất tần tật...khi có cơ hội làm bàn. Thịt chó nấu theo kiểu của dân sành điệu ở thành phố thì rất cầu kỳ bọn lính rừng như chúng tôi lấy đâu ra soong nồi và các loại gia vị ấy... Các thứ đó tuy linh tinh nhưng không thể thiếu cho một dây chuyền công nghệ chế biến đầy kỹ thuật để làm ra món chó cực ngon này...thì bọn tôi đã tự cung cấp được ở rừng mà riềng sả lá mơ mọc tốt và lớn nhanh như thổi ấy thế nên bọn tôi mới ngã chó ầm ầm... Lính rừng thì gia tài nấu nướng chỉ là cái soong cơm cái soong canh cảm ơn chúng cũng là cái vật thể nấu nướng to nhất làm gì cũng phải gói gọn vào một trong hai cái nồi sinh tử ấy thôi.

     Đó là món chó nấu một nồi rất độc đáo.

     Và cũng như nhiều thực đơn khác các món thịt chó cũng bắt đầu bằng món tiết canh rất hương vị chó của mình. Muốn ăn tiết canh chó thì phải chuẩn bị bổi trước nếu chưa sẵn thịt chó thì bổi có thể là lưỡi cổ họng tai lợn băm hạt lựu cho bổi vào từng chén nhỏ...treo chó lên cành cây rồi cắt lấy tia tiết hồng...Tiết canh chó ăn mát bà cố nên phải uống thêm tí rượu có cái bánh tráng gạo nướng giòn càng hay ăn kèm với rau thơm trên mặt bát tiết nên rắc ít lạc đã đâm nhuyễn cho đỡ...hãi. Trong lúc các bậc trưởng lão ngồi thưởng thức món tiết canh này thì ngoài kia ả gâu gâu của chúng ta cũng đã được thui rơm vàng óng muốn ra thịt nhanh thì phải cắt để lại bốn khuỷu chân chó làm sau cùng phải làm thật sạch bằng cách nướng đỏ que sắt rồi xiên vào các kẽ chân này...( với sức nóng hằng trăm độ thì chẳng có con vi trùng nào còn sống nổi nữa đâu ).

    Dồi chó là món danh bất hư truyền bạn chưa nghe ư : sống trên đời không ăn dồi chó chết xuống âm phủ biết có hay không ? quả thật dồi chó mà có thêm tí thịt mỡ lợn thì cực ngon...ăn giòn béo mà không ngấy.

    Món hấp bọn tôi dùng thịt thăng hai bên hông của nó ướp thấm gia vị rồi cuốn lại cho thật chắc tay gói lá chuối buộc lạt hẳn hoi tim gan thì để nguyên...còn tất cả các thứ tả bí lù thì xắt cục vừa ăn ướp gia vị xong xào sơ cho thịt săng lại. Hạt lạc sống bóc vỏ ( bằng cách ngâm nước sôi ) giã dập trộn chung vào món thịt tả bí lù này...Xếp sả đập dập vào đáy nồi rồi đổ thịt này lên phía bên trên xếp tim gan dồi và thịt cuốn lá chuối...đun lửa to đến khi vớt hết các món chùm gửi phía trên ra thì cho lửa nhỏ lại để lửa riu riu thôi cho món thịt này kịp ra nhựa thì ăn mới tuyệt cú mèo.

     Khi dồi chín vớt ra nướng lại trên lửa than hồng cho ửng vàng..rồi quăng vào chỗ không đất không trời tiếp đến là món tim gan cũng thế...Món hấp lá chuối là món độc đáo nhất món này giống như giò heo rút xương vậy. Bạn thử tưởng tượng xem khi thịt chín đem lột lớp lá chuối bên ngoài rồi xắt hơi dày thành từng khoanh tròn có hình xoắn ốc đẹp mắt khói bay nghi ngút thơm lừng...ăn rất giòn mà lại có hương vị là lạ của lá chuối rừng thế mới ngộ. Còn món cuối cùng thì chúng tôi chẳng biết gọi là món gì rựa mận chăng - cũng được xáo chăng - cũng xong...Rựa mận thì không đúng vì xương xẩu tùm lum còn gọi là xáo ư  cũng không ổn vì nước quá sền sệt...chúng tôi chỉ biết gọi nó là món tả bí lù món này ngon hết biết ăn với bún bánh mì cơm phở đều được tất. Nhưng ở rừng thì lấy đâu ra cái thứ " sơn hào hải vị" ấy khoai môn sọ luộc xắt lát ăn với món tả bí lù này cũng thuộc loại thượng đẳng thần lắm rồi...Ăn thịt chó thì phải ngồi bệt xếp bằng trên chiếu hoa nhắm với rượu cuốc lủi mới đúng sách vở ông cha để lại vừa ăn vừa đàm đạo văn chương thì rất bác học...nếu có ngâm thơ thì cũng tốt thơ ngâm lúc này có thêm mùi đặc sản...cho chó mới thích.

      Nói đến thơ thì tôi lại nhớ ngay tới Bùi Thi sĩ quá cố nhân tiện tôi cũng xin mượn linh hồn hai câu thơ nổi tiếng của ông nhưng có thay đổi lời ca chút ít cho hợp với khẩu vị chó học của bài viết này :

                     Dạ thưa...thịt chó bây giờ

                     vẫn còn có kẻ đợi chờ.. ấy ơi

•-          Ủa sao lại chờ ấy ơi..mà ấy ơi là cái gì chứ ?

                        Chẳng qua là tiếng gọi của bạn nhậu đôi khi thấy nhớ nhớ quen quen mà chẳng nhớ quen từ bao giờ ngay cả cái tên cũng tịt nốt.. đành gọi ấy ơi là rất lịch thiệp. Chuyện là có anh chàng tới cữ mà trong túi chả có xu nào cứ đi qua đi lại quán nhậu muốn rớt cái giò mà thiên hạ vẫn cứ im lặng đáng sợ.. đành bước vô quán mắt ngó láo liêng "ai kêu tui đó..""ai kêu tui đó.." mà có ai kêu đâu.

                       Chắc là buồn biết mấy khi không gặp tri âm tri kỷ..nhưng kìa :

•-          Ấy ơi..lại đây

                        Quả thật sướng bà cố.

                                                           

                                                                   PTM

                                                                             thu ĐL . 2006


Vô cùng cảm ơn nhà văn Khôi Vũ đã từng đàm đạo đề tài rất khoa học này

More...

NGƯỜI TÌNH & QUÊ HƯƠNG

By phan thanh minh



                            Tổ quốc bước ra từ sông núi

từ câu ca dao hái lượm trên đồng

từ chân đất đầu trần đi tới

từ lũy tre làng

từ chiếc gậy tầm vông


                        Tổ quốc lớn lên từ ý chí tiến công

từ sâu thẳm muôn lòng yêu nước

từ bom đạn thực dân đế quốc

từ vết thương chiến tranh nhuốm đỏ máu hồng

từ cây lúa xanh non nõn trên đồng

từ tiếng khóc trẻ thơ nhiều đêm đói sữa

từ bếp nghèo rơm không ấm lửa

từ khổ đau của muôn vạn kiếp người


                        Tổ quốc đẹp xinh từ những nụ cười

từ bát cháo không đường

từ ca nước lạt

từ đất mặn phèn chua

từ mồ hôi chan chát

từ những bà mẹ kiên cường tranh đấu hy sinh


                        Tổ quốc là bầu trời

là mặt đất mông mênh

là thăm thẳm sông sâu

là bao la biển cả

là sức mạnh kiên trung của con người gan dạ

dám rơi đầu cho độc lập lên ngôi


                        Xin một lần làm dân nước tôi

để cảm được vòng tay ấm nồng bè bạn

để thấy được trái tim bao dung thay lòng thù hận

thấy đói co không qụy lụy đồng tiền


                        Hạnh phúc bước ra từ tần tảo ngoan hiền

từ tiếng hát hòa bình

từ nụ cười nhân ái

bạn sẽ rất vui nếu mai này gặp lại

Con Người và Đất Nước Việt Nam

                        Việt Nam - Tổ quốc tôi

More...